Nổi bật, Quay Phim, Uncategorized Comments Off on Quá trình và phương thức chiếu sáng cho nhiều diễn viên trong một cảnh thoại |

Quá trình và phương thức chiếu sáng cho nhiều diễn viên trong một cảnh thoại

Các cảnh có nhiều diễn viên thường tạo ra nhiều vấn đề khi setup ánh sáng để đảm bảo kịch tính của câu chuyện lẫn bảo toàn các chi tiết. Trong bài viết dưới đây, Neil Oseman sẽ hướng dẫn cho chúng ta quá trình và phương thức chiếu sáng cho nhiều diễn viên trong một cảnh thoại.

Trong bài viết trước có tên “MỘT BÍ MẬT ĐƠN GIẢN TRONG VIỆC CHIẾU SÁNG VÙNG MẶT CŨNG NHƯ CÁCH PHÁ VỠ CÁC THÔNG LỆ KHI CẦN THIẾT”, chúng ta đã thảo luận về short key, một quy tắc cần nhớ trong việc đặt đèn chính. Hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu về cách phát triển concept này trong một cảnh quay điển hình với 2 diễn viên.

Để nhắc lại, một short key là một key light được đặt ở vị trí đối diện với đường mắt của diễn viên đến máy quay. Giúp nhấn mạnh những đường nét trên khuôn mặt diễn viên, đặt cạnh phần tối. Nếu chúng ta có 2 diễn viên, đứng đối diện nhau và nói chuyện, chúng ta có thể set up một đèn short key cho mỗi người, và thành backlight cho người kia. Điều này gọi là cross-backlighting.

Cross-backlighting đẹp ở chỗ nó khiến cho phía gần trên khuôn mặt của cả hai diễn viên ở trong vùng tối, cho độ tương phản và chiều sâu, dù bạn đặt đèn ở đâu – giả sử bạn đang tuân thủ quy tắc 180 độ bằng cách luôn ở trong một phía của đường mắt. Bạn quay over-the-shoulder close-up và có một góc ba phần tư đẹp nhờ short ket với blacklight trên cùng một phía và trong shot wide của bạn, ánh sáng dịu dàng bao quanh cả hai phía của cả hai chủ thể.

Nhưng chúng ta không nhất thiết phải cần đến hai nguồn sáng riêng để tạo ra hình ảnh có tính điện ảnh. Nguyên tắc là quay theo hướng ánh sáng và thu xếp để ánh sáng bao quanh khuôn mặt diễn viên.

Khi mới bắt đầu quay phim hoặc chụp hình, chúng ta thường được dạy rằng không nên chĩa máy quay thẳng về phía nguồn sáng: Nếu quay nội, chúng ta không nên hướng máy quay về phía cửa sổ, nếu quay ngoại, chúng ta không nên hướng máy quay về phía mặt trời. Điều này chủ yếu là do người mới bắt đầu thường dùng chế độ phơi sáng tự động, chế độ này sẽ tự động điều chỉnh khi ánh sáng nền quá mạnh bằng cách chuyển chủ thể thành bóng (silhouette). Nhưng nếu là người quay phim chuyên nghiệp, đặc biệt là người đủ khả năng quay phim điện ảnh, việc chĩa máy quay thẳng vào nguồn sáng là những thứ mà chúng ta muốn làm. Đó là vì nó tạo ra một master shot giúp thiết lập ánh sáng từ phía sau, thứ sẽ trở thành một short key khi chúng ta di chuyển máy quay sang hai bên để lấy cận.

Hãy tưởng tượng hai người đang ngồi đối diện nhau trong một bàn ở quán cafe. Như thường thấy những cảnh tương tự như vậy trong phim điện ảnh và truyền hình, hai người đó ngồi ở một bàn bên cửa sổ, vậy nên máy quay bắt buộc phải chĩa về hướng đó. Về cơ bản, ánh sáng từ cửa sổ (có thể là ánh sáng tự nhiên hoặc không) là một cross-backlighting đối với diễn viên. Ánh sáng này chiếu vào phía bên mặt không có máy quay, bao quanh họ – cửa sổ càng lớn, ánh sáng càng nhiều – còn phần hình ảnh hướng về máy quay lại tối.

Lấy một ví dụ khác, cảnh nội ban đêm với các đèn bàn có sẵn trong phòng. Hầu hết các DP sẽ thường muốn dùng đèn gia dụng trong background của các shot wide. Điều này không chỉ bởi vì đèn là một đạo cụ làm đẹp cho khung hình, mà còn bởi vì ánh sáng do chúng phát ra là short key đối với diễn viên trong các cảnh cận.

Tôi vừa quay một shot nội ban đêm trong nhà bếp. Hai diễn viên ngồi đối diện nhau ở quầy ăn sáng. Phía trên họ là dàn đèn cố định trong phòng, nhưng nó không đủ sáng và lại hắt ánh sáng thẳng vào mặt diễn viên. Tôi quyết định phải setup một nguồn sáng khác, cũng là đèn gia dụng nhưng lớn hơn và cho ánh sáng dịu hơn để bù sáng, nằm ngoài vùng thấy của máy quay. Điều này giúp tôi có được ánh sáng rất tuyệt, với vùng tối hướng về phía máy quay và các shot cận trông rất đẹp.

Học về ánh sáng trong phim điện ảnh và truyền hình, đặc biệt là trong các cảnh thoại hai người, và bạn sẽ thấy cross-backlighting được sử dụng rất nhiều cùng các biến thể của nó.

Nguồn: RedShark News, Pixel Factory

Read more

Nổi bật, Quay Phim Comments Off on Bí mật đơn giản cho việc chiếu sáng vùng mặt, cũng như cách phá vỡ các thông lệ khi cần thiết. |

Bí mật đơn giản cho việc chiếu sáng vùng mặt, cũng như cách phá vỡ các thông lệ khi cần thiết.

Show góc đẹp nhất. Chiếu sáng vùng mặt sao cho đẹp là một trong những việc khó nhất trong cinematography. Nhưng có một số hướng dẫn mà bạn có thể tuân thủ để giúp bạn làm việc này tốt hơn. Trong bài viết này, Neil Oseman chia sẻ với bạn một trong những bí mật của việc chiếu sáng vùng mặt, cũng như cách phá vỡ các thông lệ khi cần thiết.

Nếu bạn đang bắt đầu sự nghiệp cinematography của mình hoặc đang chuyển sang lĩnh vực điều khiển máy quay, ánh sáng là một trong những yếu tố có thể gây khó chịu. Làm thế nào để biết nên đặt đèn ở đâu? Nếu bạn làm việc với hệ thống chiếu sáng ba điểm (3-point lighting), bạn có thể không cần quan tâm nhiều lắm đến backlight và fill light, nhưng hẳn việc tìm vị trí phù hợp cho key light có thể khiến bạn bối rối.

May mắn thay, có một vài quy tắc rất đơn giản mà bạn có thể áp dụng, được gọi là short key. Nói một cách ngắn gọn, một short key light là một đèn được đặt đối diện với hướng mắt nhìn của chủ thể đối với máy quay. Hãy tìm hiểu xem điều này có ý nghĩa gì và tại sao nó lại phổ biến. Trên thực tế, một khi bạn hiểu short key là gì, bạn sẽ luôn tìm thấy những ví dụ của nó trên phim và truyền hình – bạn sẽ thấy lúng túng khi biết nó được sử dụng quá nhiều như vậy.

Cách dễ nhất để nghĩ về short key là xuất phát từ điểm nhìn của diễn viên. Máy quay nằm ở phía đối diện của chúng ta và nép sang một bên, bởi có rất ít diễn viên nhìn trực diện vào ống kính, và key light nằm đối diện với chúng ta, xéo qua một bên. Nó được gọi là short key bởi vì ánh sáng sẽ hắt về phía khuôn mặt không hướng về máy quay. Ngược lại với short key là broad key, là kiểu ánh sáng chiếu vào phía mặt hướng về phía máy quay, do đó, anh sáng phủ phần lớn khuôn mặt diễn viên ở phía hướng về máy quay.

Short key tuân thủ các nguyên lý chung trong điện ảnh, rằng ánh sáng sẽ thú vị hơn khi được chiếu từ phía bên hông hoặc đằng sau, chứ không phải từ phía trước. Các DP thường xử lý ánh sáng theo cách này trong hầu hết các trường hợp bởi nó tạo ra chiều sâu và độ tương phản lớn hơn so với broad key. Bằng cách chiếu đèn từ phía bên hông, một short key tạo ra vùng tối ở phía gần hơn, tạo ra tâm trạng và sự thú vị. Nó làm cho phần mũi và má sắc nét hơn. Nó làm cho phần tai và sau đầu tối đi, tập trung sự chú ý của người xem vào phần mặt và do đó tăng hiệu quả hình ảnh.

Phía dưới cái dù của short key, chúng ta vẫn có thể thay đổi nhiều góc độ khác nhau để ảnh hưởng đến tâm trạng. Nếu chúng ta đặt key sang bên một cách nghiêm túc, để không một tia sáng nào lọt qua được phía máy quay trên khuôn mặt diễn viên, sử dụng đèn fill có cường độ cực thấp, chúng ta sẽ tạo ra hình ảnh đầy mạnh mẽ và kiên quyết. Nếu chúng ta đặt key gần về phía trước hơn và làm dịu ánh sáng bằng diffusion để ánh sáng toả đều phía máy quay trên khuôn mặt, chúng ta tạo ra hình ảnh thoải mái và ảo diệu hơn. Chúng ta có thể tăng độ sáng của đen để nhấn mạnh các đường nét nơi hốc mắt như trong Godfather, hoặc giảm cường độ sáng để phục vụ cho những cảnh phim có phần ma quái thường thấy trong những bộ phim ma, hoặc đặt nó bất kỳ đâu ở giữa.

Broad key thường không được các cinematographer ưa thích, thường chỉ được dùng khi short key không còn phù hợp cho một cảnh nào đó. Mặc dù vậy, điều đó không có nghĩa là nó không tốt hay không thể được sử dụng một cách có ý đồ và sáng tạo.

Nếu bạn đến thăm National Portrait Gallery ở London, bạn sẽ thấy rằng phần lớn các bức tranh truyền thống được chiếu sáng bằng broad key. Đây là cách chiếu sáng chủ thể giống như cách các hoạ sĩ chiếu sáng các nhân vật trong tranh của họ. Có lẽ những hoạ sĩ này cảm thấy rằng việc nhìn những đường nét của đầu và tai có tầm quan trọng ngang bằng hoặc lớn hơn trong việc thể hiện sự xuất hiện của con người hơn là việc tập trung ánh sáng trên khuôn mặt của nhân vật trong tranh. Dù là lý do gì đi chăng nữa, việc ứng dụng broad key trong phương pháp vẽ chân dung truyền thống cũng được các cinematographer sử dụng. DP Ole Bratt Birkeland đã thực hiện chính xác như vậy trong The Crown khi ông thiết đặt ánh sáng cho các shot quay Nữ hoàng Elizabeth II (Clare Foy) từ một bên máy quay để tạo ra cảm giác trong tiềm thức rằng cô là một nhân vật trong một bức chân dung hoàng gia.

Short key, tuy vậy, lại là phong cách chủ yếu thường thấy trong chiếu sáng. Nó thường là thứ đầu tiên mà một DP xem xét sử dụng khi bước vào hiện trường, rằng: Tôi có thể đặt key light ở đâu để tạo ra một vùng sáng hẹp trên khuôn mặt diễn viên. Hoặc ngược lại, tôi nên đặt máy quay ở đâu để nó hợp với đèn một góc hợp lý với short ket? Đôi khi, nếu chúng ta phải xử lý một nguồn sáng cố định như cửa sổ – chúng ta sẽ yêu cầu sử dụng blocking để đảm bảo short ket. Việc tạo ra hình ảnh mang tính điện ảnh có thể là một chặng đường dài. Vậy nên, lần tới, khi xem TV hoặc phim, hãy chú ý đến nó, đảm bảo rằng bạn sẽ thấy nó ở mọi nơi.

Nguồn: RedShark News, Pixel Factory

Read more

Dựng Phim, Kiến thức, Nổi bật Comments Off on Quản lý và sắp xếp dữ liệu trong phòng dựng phim |

Quản lý và sắp xếp dữ liệu trong phòng dựng phim

Một project dựng phức tạp tự nó đã gây khó chịu rồi, nhưng khi có thêm nhiều người hơn nữa tham gia vào quá trình này, nó nhanh chóng trở nên vô cùng rối rắm. Trong bài viết này Peter Haas, sẽ chỉ cho chúng ta những mẹo cần nhớ để có thể quản lý những workflow, những workflow phức tạp hơn trong phòng dựng phim.

Mỗi người có một cách riêng để quản lý nhóm dựng phim của mình, nhưng khi nhóm của bạn trở nên đông người hơn chứ không còn là một người dựng phim và một người trợ lý duy nhất như trước nữa, thường thì bạn sẽ cần sử dụng một hệ thống lưu trữ chung, như EditShare hoặc Avid ISIS. Điều này cho phép mọi người cùng truy cập tất cả các yếu tố của project trong cùng một mạng lưới chung như thể nó nằm ngay trên máy tính của chính họ.

Từ quan điểm của người dựng, đây là một tin tốt. Chỉ cần nạp media một lần, bạn không cần phải tự tay di chuyển các file giữa nhiều máy tính khác nhau và nếu bạn đang làm việc trên một hệ thống được tối ưu hoá cho công việc chung như LightWorks hay Avid Media Composer, mọi người có thể làm việc chung trên một không gian project duy nhất.

Rõ ràng là việc sử dụng không gian lưu trữ chung khá là tiện lợi, nhưng nó cần bạn để ý một chút để tránh làm project trở nên lộn xộn. Với nhiều người dùng, project có thể nhanh chóng trở nên lộn xộn và mất tổ chức. Media bị phân tán trên các ổ đĩa, bị sắp xếp không chính xác và có quá nhiều sequence bị dán nhãn lộn xộn kiểu như “.final.final.final…”

Với một chút cẩn trọng và chuẩn bị trước, bạn có thể dễ dàng tránh được những lộn xộn này.

Tạo không gian xác định

Mỗi project nên có một sự kết hợp giữa “không gian công cộng” – nơi cho phép mọi người dễ dàng truy cập một cách thường xuyên và luôn cung cấp đủ tài nguyên cho tất cả – và “không gian cá nhân” mà trong đó mỗi người dùng cá nhân có khả năng kiểm soát nhiều hơn.

Bên cạnh việc phải “đối mặt với công chúng” nhiều hơn, các folder và bins công cộng nên được áp dụng các quy tắc chung cứng nhắc về cách thức mọi người nên giữ gìn và làm việc với các yếu tố này.

Một ví dụ tốt về không gian công cộng là một  “Current Cuts” bin chỉ chứa những bản cut mới nhất. Nó có thể được hoàn thành dưới dạng một timeline đơn nhất, bằng reel. Nhưng các quy tắc nên được thực hiện một cách nghiêm ngặt. Nếu một sequence nằm trong bin này, nó là phiên bản mới nhất mà những người khác vừa làm việc. Tôi thường đặt quy tắc rằng nếu bạn đang làm việc trên một reel, bạn nên xoá nó khỏi bin để tránh gây nhầm lẫn.

Mọi thứ cũng tương tự như vậy đối với “Old Cuts” bin, nơi các dựng phim có thể dễ dàng sao lưu và nhân bản các sequence trước khi họ bắt đầu làm việc.

Mọi người làm việc trên một project nên có một không gian riêng, một folder của họ để có thể tự do làm việc. Cách tiếp cận chung của tôi là: “Tôi không quan tâm cách bạn tổ chức nó, chỉ cần chúng tôi có thể tìm những thứ chúng tôi cần khi chúng tôi cần nó.”

Đặt tên các sequence một cách rõ ràng

Hãy đảm bảo mọi người trong nhóm sử dụng một định dạng tên chung và đặt tên cho các sequence một cách nhất quán, điều này sẽ giúp ngôi nhà chung gọn gàng cũng như tạo nên một workflow được tổ chức tốt.

Tôi thường dùng cấu trúc chung là: [NGÀY].[TÊN].[TRẠNGTHÁI]

Để đánh dấu trạng thái của một sequence, tôi thường dùng một trong những ký hiệu sau:

.WIP — a work in progress, đang được tiến hành, có thể chưa hoàn thiện, chưa sẵn sàng để chiếu…

.CURRENT – bản cut hiện tại

.SCREENED(DATE) — tôi luôn làm một bản sao cho tác phẩm trước khi chiếu. Nó khiến mọi thứ dễ dàng hơn nếu tôi phải quay lại để ghi chú từ một ngày cụ thể.

.EOD — một bản sao được tạo ra vào cuối ngày làm việc

Lưu ý: Tôi không bao giờ dùng “.FINAL” bởi bạn sẽ rất dễ rơi vào một tình trạng kinh khủng như MyEpisode.final.final.0820.final.unlocked.final

Giữ một cây thư mục gọn gàng

Khi các note được tổ chức lộn xộn trong quá trình làm việc, bạn sẽ khó nhớ được bản cut bạn cần là bản nào và được lưu ở đâu. Kể cả khi bạn đã có thư mục “current cuts”, mọi thứ có thể trở nên rất phức tạp.

Đối với một số project nhất định, tôi tổ chức mọi thứ theo ngày tháng, vậy nên cây thư mục/bins của tôi trông như thế này

Từ đây, tôi sẽ sử dụng cột ghi chú và một tài liệu “change log” để theo dõi mọi thay đổi trong các sequence khác nhau.

Change log có thể là một bảng tính hoặc một văn bản đơn giản có chứa tên sequence, ngày tháng và các thông tin tham chiếu đến các ghi chú hoặc sửa đổi đã được thực hiện. Tôi thấy rằng nó đặc  biệt hữu ích đối với các project có nhiều note như chương trình truyền hình và quảng cáo.

Các công cụ kết nối qua internet

Tôi thường phải tắt hết tất cả các loại công cụ cộng tác dựa trên internet. “Mấy thứ vô dụng gây lãng phí thời gian”.

Mọi thứ thay đổi theo thời gian và deadline của project ngày càng trở nên chặt chẽ hơn, phòng dựng cần được sắp xếp hợp lý hơn để duy trì sự liên tục của mọi thứ. Quản lý tài liệu và các phương thức giao tiếp là công việc đóng vai trò chính yếu.

Trong một vài project cuối mà tôi đã làm việc có sử dụng các phần mềm quản lý nhóm như Slack và Google Drive.

Slack có một loạt các phòng chat cá nhân được gọi là các channel, mà chúng tôi thường triển khai theo những cách khác nhau. Một số channel chung và có sự tham gia của tất cả mọi người như “latest scripts” hay “interview transcripts”. Một số khác cho một số cảnh, yếu tố hoặc chủ đề xuyên suốt cần giải quyết.

Bộ phần mềm văn phòng của Google tuy có một số giới hạn nhất định nhưng lại là một công cụ hợp tác hết sức mạnh mẽ, bởi chúng cho phép nhiều người cùng xem và chỉnh sửa tài liệu cùng một lúc trong thời gian thực. Nó rất tốt cho việc quản lý kịch bản, tape-log…

Google Doc cũng rất hữu ích trong việc giữ cho các ghi chú và thay đổi được sắp xếp rõ ràng. Bây giờ, tôi có thói quen tạo một tài liệu mới trên Google Doc cho mỗi bộ ghi chú và link chúng với change log của mình.

Thiết đặt một giao thức

Đây có lẽ là điểm quan trọng nhất, và nó đúng cả trong khía cạnh kỹ thuật lẫn khía cạnh sáng tạo trong việc quản lý một project: Trước khi bắt tay thực hiện một project, hãy lên một kế hoạch… và viết nó ra. Một khi bạn đã viết ra giao thức của mình, đảm bảo mọi người có thể truy cập vào đó được. Đừng ảo tưởng rằng mọi người sẽ hỏi bạn về nó hay tự đi tìm nó. Hãy in nó ra, gửi email, gửi nó lên Slack, WordPress, Google Drive, bất cứ chỗ nào bạn có thể, nói mọi người đọc nó và dành thời gian để giải thích cho mọi người.

Trong tương lai

Tôi rất vui mừng khi thấy số lượng phần mềm quản lý và hợp tác trong hậu kỳ ngày càng tăng. Những phần mềm như EditShare Flow, frame.io, và Kyno của Lesspain… giúp cho tiến trình công việc trong hậu kỳ trở nên suôn sẻ, cho phép người dùng truy cập được vào hệ thống từ bên ngoài phòng dựng. Tôi rất thích thú tìm hiểu cách phần mềm giảm bớt sự phức tạp của các file và các tài liệu được chia sẻ sẽ giúp chúng tôi làm việc trong phong dựng.

Nguồn: RedShark News

Read more

Dựng Phim, Kiến thức, Nổi bật Comments Off on Dựng phim di động và những thứ cần thiết cho công việc |

Dựng phim di động và những thứ cần thiết cho công việc

Với người dựng phim, khi làm việc trong văn phòng với những phần cứng hiện đại nhất không hoàn toàn là một lựa chọn khả thi. Đôi lúc bạn cần ra hiện trường dựng trực tiếp tại đó, để  hoàn thành sản phẩm sớm nhất có thể theo yêu cầu của khách hàng, hoặc cũng có thể bạn đang trong một kỳ nghỉ nhưng cần phải mang theo thiết bị để có thể xử lý công việc ngay khi cần thiết. Trong bài viết này, Peter Haas sẽ cho chúng ta biết một vài cách để xây dựng những hệ thống dựng phim di động tốt nhất.

Tôi từng thử qua một danh sách mà tôi nghĩ là sẽ hữu ích trước khi đóng gói đồ đạc cho chuyến đi của mình. Lưu ý đây là danh sách một số công cụ vô cùng hữu ích để dựng phim di động trên đường. Nó không phải là giải pháp hoàn hảo, mạnh mẽ, không nén, cũng không phải là một trạm DIT.

Laptop
Rõ ràng là bạn không thể dựng phim di động ở ngoài mà không có laptop, nhưng bạn cũng cần đảm bảo rằng laptop của bạn có thể làm được việc. Project (hoặc phiên bản offline của project) của bạn cần có những yêu cầu cụ thể. Đối với việc chỉnh sửa hiện đại, tôi khuyên bạn nên dùng loại laptop có ít nhất 16 GB RAM và ổ cứng SSD.

MacBook Pro của Apple là một lựa chọn tốt – ngay cả khi bạn dùng hàng OWC và Apple Refurbished cũng vẫn tốt. Tôi có thể dựng offline cho các project 4K với máy MacBook Pro 2013, RAM 8GB.

Ngoài ra cũng có nhiều lựa chọn với laptop chạy Windows , chẳng hạn như Dell Precision và HP ZBOOK series. Đây là những lựa chọn tốt.

Ổ cứng ngoài
Đối với việc lưu trữ, tôi khuyên bạn nên dùng hai ổ cứng khác nhau: Ổ đầu tiên, và rõ ràng cũng là phương tiện phổ biến, là để lưu trữ các footage. Trừ khi bạn đang làm với một số footage có độ phân giải cực kỳ thấp, ngoài ra thì bạn sẽ cần một ổ cứng có tốc độ thật nhanh để có thể xử lý các clip của bạn. Ổ cứng thứ hai (hoặc nhiều hơn hai) là nơi dùng để sao lưu cho cả máy tính, project dựng và cả các footage.

Trong cả hai trường hợp, tiêu chí lựa chọn ổ cứng của tôi đều dựa trên tính di động và độ bền.

Sony Rugged RAID là một lựa chọn tốt để bắt đầu. Loại này nhỏ, nhanh, tính di động cao với các tuỳ chọn 4 và 6 terabyte và dùng cổng Thunderbolt. Ổ 1 và 2 TB thuộc dòng Professional Series Thunderbolt của hãng này là một lựa chọn không tồi cho lưu trữ thứ cấp. Tôi từng làm việc với rất nhiều ổ cứng loại này trước đây, nó thực sự ổn.

G-Technologies cung cấp các giải pháp RAID cho desktop, tuy nhiên, theo ý kiến cá nhân, tôi thấy nó khá di động. G-Technologies còn có một số ổ cứng di động khác trong đó có cả dòng sản phẩm siêu bền chống lại sự ảnh hưởng của thời tiết, ở cả bản HDD và SSD.

Ổ cứng LaCie Rugged, với vỏ ngoài màu cam sáng, có lẽ là ổ cứng di động thông dụng và dễ nhận biết nhất hiện nay. Chúng có nhiều kích thước và giao diện khác nhau, cũng như một phiên bản RAID cho các dự án cần.

Một cái balo tốt
Chuẩn bị một cái ba lô tốt là việc quan trọng mà mọi người thường bỏ qua. Một cái ba lô (hoặc túi xách) bền, bảo vệ được thiết bị của bạn khỏi các yếu tố bên ngoài khi đi trên đường, dễ mang đi và thoải mái khi mang. PortaBrace và Pelican là những cái tên tốt. Ngoài ra còn có những thương hiệu khác như:

Prometheus Packs — tôi có vài cái ba lô hiệu này, dùng cho cả công việc lẫn những hoạt động thường ngày. Chúng rất thoải mái, có khả năng hỗ trợ tốt và chứa được cực kỳ nhiều đồ. Tôi có thể chứa toàn bộ hệ thống máy móc của mình trong một ba lô duy nhất.

Tom Bihn Bags — chất lượng cao và hết sức di động.

Maxpedition Doppelduffel là lựa chọn phù hợp khi bạn đi đi bộ với quãng đường dài.

Ngoài ra có một số thứ nho nhỏ nữa mà bạn không nên thiếu:

Ổ cắm với converter – bạn sẽ không biết khi nào bạn cần đến anh bạn này đâu nhưng chắc chắn nó sẽ cứu bạn nhiều lần.

Màn hình phụ cho laptop, có nhiều loại màn hình nhỏ trên thị trường, tương đối di động. Thậm chí có những màn hình 8″ với giá 100 USD. Thường dùng cho các máy tính cấp thấp như Raspberry Pis, nó không phải là một màn hình tốt cho việc hiển thị hình ảnh nhưng nó là bin monitor hết sức tuyệt vời.

Về headphone, dùng loại đi kèm với điện thoại hẳn là lựa chọn tiện lợi nhất, nhưng không phải lúc nào cũng là tốt nhất. Sony MDR-7506 là một lựa chọn mà bạn nên cân nhắc.

Một cái bàn con đủ nhỏ để nằm vừa trên đùi của bạn hoặc một mặt phẳng nào đó có thể mở ra mở vào là một phụ kiện mà bạn nên có để giúp cho việc dựng phim của bạn dễ dàng hơn.

Mặc dù không cần phải nói thêm nữa, nhưng bạn nên kiểm tra lần 2 để chắc chắn là mình đã có đủ mọi thứ cần thiết: ổ cứng, tài liệu, file project mà bạn cần trước đây cũng như kiểm tra để đảm bảo là bạn đã kích hoạt tất cả các software licenses của mình trước khi lên đường. Bạn sẽ không muốn rơi vào tình trạng là vừa kết nối vào wifi thì tá hoả nhận ra Adobe subscription của mình vừa hết hạn đâu.

Một thiết bị khác bạn có thể sử dụng hoặc không nhưng đối với tôi nó là quan trọng, đó là đồng hồ bấm giờ. Tôi thường phải làm việc khi đang đi đâu đó và nó thường không mang đến cảm xúc tích cực khi mà bạn phải làm việc trong một kỳ nghỉ. Vậy nên tôi dùng đồng hồ bấm giờ để kiểm soát thời gian của mình sao cho cân bằng giữa làm việc và nghỉ ngơi để có được một kỳ nghĩ không quá tệ.

  Tham khảo khóa học Dựng phim: http://reg.edu.vn/hoc-dung-phim/

Nguồn: RedShark News

#[R.E.G],#PixelFactory sưu tầm và biên dịch

Read more

Kiến thức, Nổi bật, Quay Phim Comments Off on Một số mẹo tham khảo để quay phim nhanh hơn |

Một số mẹo tham khảo để quay phim nhanh hơn

Chúng ta đều từng trải qua 1 buổi làm việc đang dần hết, mà mình vẫn chưa hoàn thành xong cảnh mà mình đã dự định sẽ kết thúc nó trước giờ ăn trưa, trong khi đó còn cả núi việc phải nhồi nhét trong vài giờ tới. Bạn làm thế nào đây?

Tất nhiên, hành động hiệu quả nhất lúc này là cắt bỏ phần đó ra khỏi kịch bản, nhưng việc được đạo diễn, nhà sản xuất và biên kịch (nếu họ cũng ở trên hiện trường) đều đồng ý là rất khó. Thay vào đó, 1st AD sẽ thường nhìn vào shot-list và đề xuất cắt bỏ. Vậy thì, có thể cắt bỏ bao nhiêu?

Quay one-take
Hãy xem xét việc sử dụng một Single Developing Shot (SDS). Điều này có nghĩa là quay toàn bộ cảnh trong một set-up, một cú máy duy nhất, với một vài chuyển động máy quay và có lẽ một vài dynamic blocking để duy trì sự chú ý và quan tâm của khán giả. Nguy cơ của việc này là bạn sẽ không có đủ source để cắt chuyển cảnh nếu như cảnh quay không hoàn hảo. Tôi khuyên bạn nên kiểm tra chất lượng của SDS với một hoặc hai cutaway để dựa vào đó để việc dựng có thể linh hoạt hơn và giảm bớt áp lực cho shot master.

Quay down-the-line
Nếu bạn không thể tìm ra cách giảm số lượng các shot mà bạn cần, hãy xem xét việc làm cho những shot này nhanh hơn. Chẳng hạn, quay cận thì nhanh hơn. Điều này có nghĩa là, sau khi quay shot wide, bạn để nguyên máy ở vị trí cũ, chủ yếu là vì vấn đề ánh sáng, và thay một ống kính có độ dài tiêu cự lớn hơn để quay cảnh cận. Hãy quan tâm đến tính liên tục một cách nghiêm túc, vì các cut down-the-line sẽ rất dễ bị lỗi.

Dùng tiểu xảo với shot đảo ngược (reverse shot)
Loại shot tốn thời gian để làm ánh sáng nhất là shot đảo ngược, khi máy quay trượt vòng quanh để quay ở những hướng đối diện nhau, có nghĩa là đèn cũng cần được di chuyển, cùng với đó là toàn bộ các thành viên trong đoàn phim, dây điện và các thiết bị đặt lung tung trong background. Bạn có thể quay phim mà không dùng đến loại shot này, bằng cách thay đổi blocking một chút? Nhân vật đang quay lưng về phía máy quay – có mẹo nào để họ hơi quay về phía chúng tôi một chút không? Nó không thực tế lắm, nhưng các TV show thường có xu hướng tránh dùng shot này bằng cách để một nhân vật nhìn ra cửa sổ về phía chúng ta trong khi nói chuyện với người sau lưng họ.

Sử dụng thêm máy quay
Thỉnh thoảng, việc dùng thêm một máy quay thứ hai là một lựa chọn tốt, được nhà sản xuất lựa chọn như một giải pháp tăng tốc độ lên gấp đôi cho quá trình quay. Không may, nó không phải là một giải pháp đơn giản, bởi việc chiếu sáng cho hai máy quay tốn nhiều thời gian hơn cho một máy. Mặc dù vậy, nếu máy quay thứ hai được lên kế hoạch trước để đạo diễn và DP có thể tìm ra cách tốt nhất để tiếp cận trong việc chiếu sáng cho cả hai máy, nó có thể hết sức hữu dụng trong việc tăng tốc độ quay.

Điều quan trọng là thiết lập cách sử dụng máy quay B. Có phải nó chỉ đơn giản là lấy thêm shot “bonus”, trong khi máy quay A lấy những góc quan trọng không? (Hãy lưu ý rằng người dựng sẽ không có cùng sự phân biệt như vậy đối với các góc máy khi lựa chọn sử dụng shot nào). Liệu rằng cả hai máy quay có được quay trên cùng một trục, một máy với ống kính góc rộng hơn, một máy hẹp hơn, như một shot cận trong tương lai? Điều này khá dễ để chiếu sáng, nhưng các máy quay có thể bắt đầu ghi những hình ảnh tương đương nhau và có thể sẽ khó để tìm đường mắt cho diễn viên sao cho phù hợp với cả hai máy quay. Hoặc các máy quay chéo nhau, một ghi hình diễn viên A và cái kia ghi hình diễn viên B? Điều này sẽ mang lại kết quả tốt nhất cho hiệu suất quay, nhưng nó là một phương pháp rắc rối cho ánh sáng. Bạn có thể bị buộc phải chọn những ống kính có độ dài tiêu cự lớn hơn so với các ống kính mà bạn ưa dùng để đảm bảo là máy quay còn lại sẽ không xuất hiện trong khung hình của máy kia.

Khi tất cả những mẹo trên đều không áp dụng được cho project của bạn
Khi bạn không xài được mẹo nào trong số trên, và thời gian đang cạn dần nhưng không có cách nào làm cho xong được, hãy đảm bảo rằng ít rằng những shot mà bạn chưa quay được là những shot cận hay cutaway. Một nhóm quay nhỏ hoặc tổ máy thứ hai có thể quay lại vào ngày hôm sau và có thể quay bổ sung những shot này ở một địa điểm khác với cùng phục trang. Các cảnh toàn và cảnh trung thường làm bạn tốn kém nhiều hơn để quay lại.

Nguồn: RedShark News

Read more

Dựng Phim, Kiến thức, Nổi bật Comments Off on 5 phương pháp dựng phim của Eisenstein bạn nên tham khảo |

5 phương pháp dựng phim của Eisenstein bạn nên tham khảo

Đôi khi, điều duy nhất mà bạn cần là dựng phim một cách chính xác.

Sergei Eisenstein, một nhà lý thuyết điện ảnh kiêm đạo diễn nổi tiếng người Nga, là người đi tiên phong trong lý thuyết và thực hành dựng phim. Ông yêu việc dựng phim đến mức gọi đó là “bản chất của điện ảnh”.

Eisenstein là một trong những người đầu tiên thử nghiệm lý thuyết cho rằng việc dựng phim có thể được dùng để phục vụ cho nhiều mục đích hơn là việc giúp bạn kết thúc một shot và bắt đầu một shot mới. Eisenstein cảm nhận được “sự va chạm” của các shot có thể được dùng để tác động đến cảm xúc của khán giả và tạo ra phép ẩn dụ. Ví dụ, ông đã dùng hiệu ứng Kuleshov, để chứng minh rằng, việc đặt một shot quay một người đàn ông bên cạnh một shot quay một miếng bánh mì, có thể khiến khán giả tin rằng người đàn ông đó đang rất đói và muốn ăn một ít bánh mì.

Theo Eisenstein, dựng phim được định nghĩa là “sự kết hợp các shot mang tính biểu tượng – mang tính đơn nhất về mặt ý nghĩa, mang tính trung lập về mặt nội dung – vào các bối cảnh và các chuỗi mang tính tinh thần, trí tuệ”. Video dưới đây từ dựng phim Ryan Charles phân tích 5 phương pháp dựng phim của Eisenstein: độ dài (metric), nhịp điệu (rhythmic), âm nhạc (tonal), ẩn ý (overtones) và trí tuệ (intellectual).

 

 

 

 

 

 

 

 

Metric Montage
Đây là phương pháp cut các shot theo cùng một độ dài nhất định, bất kể nội dung của shot.

Rhythmic Montage
Đây là phương pháp cut theo nội dung của các shot, hoặc dựng một cách liên tục. Đây là phương pháp dựng phim được sử dụng nhiều nhất. Độ dài của mỗi shot được quyết định dựa trên các chi tiết cụ thể của shot, cũng như cấu trúc của sequence.

Tonal Montage
Đây là phương pháp cut dựa trên tone cảm xúc của cảnh. Đây là kiểu dựng phim mang tính chủ quan theo nghĩa là bạn không cắt bỏ bất kỳ khía cạnh vật lý nào của clip. Thay vào đó, nó là sự kết hợp của metric và rhythmic montage để nhấn mạnh bất cứ chủ đề cảm xúc nào xuất hiện tại thời điểm đó trong câu chuyện của bạn. Các shot có thể được kết hợp bởi cả các đặc điểm của video và âm thanh.

 

 

 

 

 

 

 

 

Overtonal Montage
Đây là phương pháp cut dựa theo tone và overtones của shot. Phương pháp này thậm chí còn trừu tượng hơn cả tonal montage. Theo Eisenstein, “Từ khoảnh khắc mà overtones được nghe thấy song song với âm thanh cơ bản, nó có thể tạo ra những rung động, giao cảm. Nó không tạo ra một ấn tượng tương tự như tones, mà là những hoán vị vật lý thuần tuý của  việc cảm nhận những ấn tượng.”

Từ đó, chúng ta có thể coi overtonal montage là sự hoà trộn của các chủ đề lớn hơn (dù là chính trị, tôn giáo hay triết học) với các tone cảm xúc của một cảnh thông qua việc sử dụng metric và rhythmic montage.

Intellectual Montage
Đây là phương pháp cut các shot theo mối quan hệ của chúng để phục vụ cho một concept trí tuệ.

Nguồn: No Film School

Read more

Những điều bạn nên tham khảo để có một lịch quay phim tốt nhất

Bạn đang cố gắng để lên một lịch quay phù hợp? Dưới đây là một số chia sẻ bạn nên xem xét để kế hoạch quay không ảnh hưởng đến quá trình sản xuất.

Công việc ngoài hiện trường đôi khi nó hết sức hỗn loạn không theo ý mình, nếu có thêm một cái lịch quay tồi và rối rắm có thể biến mọi thứ thành cơn ác mộng thực sự. Để có một kế hoạch rõ ràng và súc tích cho mỗi ngày quay, các nhà làm phim cần lên lịch quay – nhưng nếu bạn chưa bao giờ làm việc này trước đây, nó có thể rất khó, bạn không biết làm cách nào để tiết kiệm thời gian, tiền bạc và rất dễ dẫn đến sự thất vọng.

Trong video dưới đây, StudioBinder chỉ ra 5 điều cần nhớ nhằm giúp bạn tổ chức lịch quay tốt hơn, khiến cho quá trình sản xuất của bạn rẻ hơn, năng động hơn và dễ dàng hơn cho diễn viên và thành viên trong đoàn.

Có rất nhiều thứ cần phải xem xét khi lên lịch quay, nhưng có 5 điều đáng nhớ nhất được nhắc đến trong video này sẽ giúp bạn suy nghĩ về việc lên một kế hoạch tốt là như thế nào.

Gọn gàng: Chèn các cảnh dễ giữa các cảnh khó để giúp cho diễn viên và thành viên trong đoàn phim không rơi vào tình trạng khi thì ngập đầu trong những cảnh khó nhằn, khi thì quá thảnh thơi bởi toàn cảnh dễ.

Tận dụng địa điểm một cách tối đa: tìm cách tận dụng địa điểm, gộp địa điểm nếu có thể, để tiết kiệm chi phí. Lợi dụng những khu vực xung quanh để lấy một vài pick-up và b-roll.

Làm việc theo thứ tự thời gian: Sẽ có một số lý do khiến bạn không phải lúc nào cũng có thể quay một cách liên tục (vấn đề trong lịch quay, thời gian ràng buộc…) Nhưng làm càng nhiều càng tốt, bởi nó sẽ giúp diễn viên của bạn có thể kết nối với nhân vật của họ một cách cảm xúc hơn.

Thiết lập các cột mốc: Có ai không thích cảm giác mình đạt được thành tựu gì đó chứ? Bạn có thể tạo ra những khoảnh khắc như vậy bằng cách đánh dấu những cột mốc khó khăn, những cảnh quay thử thách hoặc ngày làm việc cuối cùng của một diễn viên nào đó.

Lên lịch quay cho những cảnh đêm một cách cẩn thận: Lên lịch quay đêm và ngày xen kẽ nhau sẽ khiến cho mọi người hết sức mệt mỏi, bắt các thành viên và diễn viên làm việc quá sức. Hãy cho các thành viên trong nhóm có ít nhất 12 tiếng để nghỉ ngơi và thư giãn trước khi bước vào đợt quay tiếp theo. (Đối với hầu hết các nghiệp đoàn, đó là luật)

Nguồn: No Film School

Read more

Dựng Phim, Kiến thức, Nổi bật Comments Off on Nguyên tắc cần tuân thủ để tạo ra một CUT lý tưởng trong dựng phim |

Nguyên tắc cần tuân thủ để tạo ra một CUT lý tưởng trong dựng phim

Dựng phim Walter Murch – người từng 3 lần giành giải Oscar – chia sẻ với bạn các tiêu chí để có được một cut tốt mà những người dựng phim cần biết.

Bạn có bao giờ nghe đến Rule of Six? Nó là một bộ “quy tắc” trong dựng phim do Walter Murch đề xuất, người đã cho chúng ta biết về quá trình sáng tạo của người dựng phim được giải Oscar , mặc dù ông là người đầu tiên nói cho chúng ta về những tiêu chí này, và nó mang tính cá nhân chứ không phải là một bộ quy tắc chuẩn mà bạn bắt buộc phải tuân thủ, nhưng Rule of Six có thể sẽ rất hữu ích cho những người muốn nâng cao tay nghề của mình.

Nếu bạn chưa bao giờ nghe về các quy tắc nổi tiếng của Murch, editor của SNL là Adam Epstein giải thích chúng một cách chi tiết trong khoá học dựng phim MZed của anh có tên là “The Cutting Edge” và may mắn cho chúng ta là, các thành viên của Film Riot cho chúng ta biết về các quy tắc này trong video của họ ở dưới đây.

Chúng tôi đã đề cập đến Rule of Six của Murch một vài lần trước đây, nhưng Epstein, người không chỉ là dựng phim của Documentary Now! mà còn là một SNL alum, cho chúng ta biết thêm rất nhiều lời khuyên tuyệt vời trong việc tiếp cận từng “quy tắc” trong bộ quy tắc trên vào công việc của bạn.

Có lẽ, quan điểm sâu sắc nhất mà anh chia sẻ là, không có quy tắc nào là cố định khi bạn dựng phim. Bạn vẫn có thể tạo ra một bản dựng xuất sắc mà không cần phải tuân thủ bất kỳ tiêu chí nào mà Murch đưa ra – có thể ngoại trừ một nguyên tắc. Anh giải thích rằng có một nguyên tắc duy nhất trong số 6 nguyên tắc này sẽ luôn luôn dùng dù cho bạn đã làm nhiều tác phẩm rồi hay mới chỉ bắt tay vào dự án đầu tiên, đó chính là CẢM XÚC.

Lần tới, khi bắt tay vào dựng phim, hãy tự hỏi mình một vài câu hỏi:

Cut này sẽ ảnh hưởng đến cảm xúc của khán giả như thế nào?

Những cảm xúc trong cảnh này có ảnh hưởng đến quyết định trong dựng phim của bạn hay không?

Nếu bạn có hứng thú trong việc tìm hiểu về các lời khuyên trong dựng phim này, tôi khuyên bạn nên tìm hiểu thêm về khoá “The Cutting Edge”. Tôi đã tham dự khoá học này vài năm trước khi Epstein đến San Francisco và nó hoàn toàn xứng với cái giá 80 USD mà tôi đã bỏ ra để tham dự.

Nguồn: #internet

Read more

Kiến thức, Nổi bật, Quay Phim Comments Off on Chia sẻ bí quyết để thành công trong sự nghiệp Quay phim |

Chia sẻ bí quyết để thành công trong sự nghiệp Quay phim

Ellen Kuras, QP từng hợp tác với các đạo diễn như Michel Gondry, Spike Lee, Jonathan Demme… sẽ chia sẻ với bạn những kinh nghiệm để thành công trong sự nghiệp quay phim.

Ellen Kuras, thuộc ASC, là một trong những cinematographer người Mỹ đang làm việc có sự nghiệp ấn tượng nhất hiện nay. Cô đã từng quay cho nhiều đạo diễn lớn như Spike Lee, Harold Ramis, và Sam Mendes và một số bộ phim độc lập được yêu thích nhất của thế kỷ này. Như Eternal Sunshine of the Spotless Mind của Michel Gondry, Coffee and Cigarettes của Jim Jarmusch. Cô là người đầu tiên 3 lần giành giải Best Dramatic Cinematography tại liên hoan phim Sundance (với các phim Swoon, Angela, và Personal Velocity), nhận được 1 đề cử Oscar và giành được một giải Emmy với phim tài liệu mà cô vừa quay vừa là đạo diễn, có tên là The Betrayal (Nerakhoon)

“Để trở thành một đạo diễn và QP thành công, quy tắc số một của cô chính là: đừng biến mình thành một đứa khốn nạn.”

Không chỉ những kỹ năng và các thành tựu của cô khiến cô trở nên xuất chúng – thái độ và cách tiếp cận của cô đối với công việc cũng là một phần quan trọng. Cô chịu khó lắng nghe, nghiêm túc trong việc hợp tác với người khác, sử dụng mọi cơ hội để tiến bộ hơn nữa trong khả năng kể chuyện bằng hình ảnh, và cô trân trọng toàn bộ thành viên nhóm của mình.

Tại buổi chia sẻ ở Liên hoan phim Tribeca 2017 vừa rồi, Kuras đã chia sẻ một vài điều quan trọng ảnh hưởng đến thành công của cô với những DP và đạo diễn mới vào nghề.

Hiểu về tầm nhìn của người đạo diễn
Nói chung, Kuras cảm thấy rằng, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của QP là lắng nghe người đạo diễn của mình và thực sự quan tâm đến tầm nhìn của họ. Cô nói: “Không phải đạo diễn nào cũng biết về các loại ống kính, không phải đạo diễn nào cũng biết về blocking. Vì vậy, hãy lắng nghe và tìm hiểu chính xác họ muốn nói điều gì. Nó không phải là việc tạo ra các shot, nó là việc cố gắng để tạo ra câu chuyện bằng máy quay và ánh sáng.”

Thay vì đưa ra những quyết định về mặt kỹ thuật nào cần được thực hiện, bạn cần phải hiểu câu chuyện của mình một cách chặt chẽ. Điều này có vẻ hiển nhiên, nhưng Kuras nói: “Có rất nhiều người mà tôi quen quay nhưng không thực sự hiểu câu chuyện là gì. Họ không biết họ đang quay cái gì cả.”

Cả đạo diễn lẫn người quay phim đều cần biết rõ họ muốn cover một cảnh như thế nào. Điều này đòi hỏi phải giao tiếp với nhau. Đặc biệt là khi quay phim tài liệu, sẽ có lúc bạn rơi vào tình huống quay mà không có đạo diễn đi cùng. Vì vậy, những cuộc trao đổi giữa hai người càng chi tiết càng tốt, về việc các bạn muốn khán giả nhìn thấy gì và cảm thấy gì.

Với phim truyện, Kuras khuyên nên dành thời gian cho tiền kỳ càng nhiều càng tốt. Cô nhớ lại rằng trong những phim mà cô thực hiện với Rebecca Miller, như là Personal Velocity và Angela. “Chúng tôi dành 4 giờ một ngày, liên tục trong suốt 2 tháng, để ngồi cùng nhau và nói về kịch bản.”

Dù cho làm việc với ai đi nữa, Kuras đều đề nghị một khoảng thời gian là 4 ngày liên tục để làm việc với đạo diễn, để hiểu được tầm nhìn của đạo diễn đó. “Bạn cần phải hiểu họ nhìn thấy cái gì, và bạn thực sự muốn làm cái gì trước khi ra phim trường, bởi vì ngay khi bạn bắt đầu phải thảo luận lại với đạo diễn trên phim trường, bạn sẽ làm mất thời gian và đánh mất cái nhìn sáng suốt của chính mình.”

Kuras nhấn mạnh sự hiểu biết về tầm nhìn của người đạo diễn: “Bởi vì mỗi shot quay có câu chuyện riêng của mình. Mỗi cú pan máy đều có lý do của nó. Có lý do đằng sau mỗi quyết định về ống kính mà bạn đưa ra. Tại sao bạn dùng cú dolly? Bởi vì cú dolly có vẻ ngầu ư? Có lẽ. Nhưng rồi thì nó có ý nghĩa gì? Bạn phải hiểu rằng khi chúng ta nhìn thấy điều gì đó, chúng ta cảm nhận nó một cách trực quan như một người khán giả và nó ảnh hưởng đến chúng ta.”

Hình ảnh luôn phải phản ánh ý nghĩa của phim
Kuras bắt đầu với một lời cảnh báo: Đừng quá bận tâm đến các hình thức và công cụ mà quên mất điều bạn đang muốn nói.

Cô nói: “Có một loại môi trường khác biện hiện nay trong thế giới điện ảnh. Bạn có thể làm cả một bộ phim dài với cái iPhone của bạn. Vậy nên, câu hỏi trở thành: Điều gì làm bạn khác biệt với những người làm phim khác?”

Kuras cho rằng câu trả lời nằm ở quan điểm của bạn, thể hiện qua những lựa chọn mà bạn đưa ra. Cô học được bài học này khi cô thuê một cinematographer để quay bộ phim mà cô đã dùng để làm luận án Thạc sĩ Nhân học Xã hội trong những năm 80. Cô giải thích cho ông về câu chuyện mà cô muốn kể, nhưng khi cô nhận lại cuốn phim 16mm của mình, Cô nói: “nó là một bộ phim được quay rất đẹp, nhưng nó bị thiếu cái gì đó. Tôi không thể thay đổi bộ phim nữa. Nhưng phải thú nhận là bộ phim không tác động được đến tôi.”

Cho đến khi co bắt đầu sự nghiệp của mình, cô bắt đầu nhận ra thứ bị thiếu trong cuốn phim trước đây của cô chính là ý nghĩa của bộ phim ẩn sau lớp hình ảnh trực quan mà người quay phim tạo ra. Cô nói: “Nó là thuộc về tính chủ quan. Mỗi phần của nó. Bởi bạn, với tư cách là một người làm phim, phải đưa ra nhiều quyết định khác nhau.”

Cô khuyến khích các QP tự hỏi mình một câu hỏi trong mỗi lần quay: Làm thế nào mà tôi có thể cấu trúc những thứ tôi đang làm – tôi quay cái này như thế nào – để nó có tác động đến ý nghĩa? Làm thế nào mà chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của phim một cách hình ảnh?”

Các hiệu ứng in-camera có thể trở nên cảm xúc hơn
Nói rằng Gondry muốn quay trở lại những điều căn bản Eternal Sunshine là còn nhẹ nhàng. Kuras nói: “Anh ta giống như một đứa trẻ bảy tuổi. Có đôi lúc anh ta cắc cớ: “Tôi cần một ít giấy mô hình. Nó ở đâu?”. Vẻ đẹp của bộ phim, trên thực tế, nằm giữa những ký ức và thực tại, cần có chỗ để thực hiện các hiệu ứng in-camera.

Vị trí chính của nó cũng đòi hỏi các phương pháp tiếp cận cơ bản, nhóm không thể thiết đặt đèn hay dán băng keo ở bất kỳ chỗ nào ở trong nhà. Kuras dùng nó như một cơ hội để thực hiện các kỹ thuật mới.

Cô và Gondry “đặt đèn trên các dimmer, quay qua kính, dùng reflection và hỏi “làm thế nào mà chúng ta có thể sử dụng tất cả những yếu tố thô sơ này mà quên mất rằng chúng ta có rất nhiều công cụ kỹ thuật số khác trong hậu kỳ?”

Mỗi shot bạn quay là một vòng tròn. Nó có bắt đầu, điểm giữa và kết thúc.

Dùng các hiệu ứng in-camera quan trọng hơn nhiều so với những “sai lầm hạnh phúc” thường xuất hiện trong thế giới analog: nó tăng cường cảm giác. Karus nói: “Hãy cho phép mình cảm nhận điều gì đó. Cho phép mình trở nên thô ráp và sẵn sàng. Cho phép mình có cảm xúc khi quay. Bạn có thể làm ra những bộ phim đẹp, nhưng điều đó không có nghĩa rằng đó là những tác phẩm có cảm xúc.”

Đừng phụ thuộc vào các cảnh phản ứng
Những câu hỏi mà Kuras thường hỏi khi họp với đạo diễn, liên quan đến vấn đề quan điểm: “Bạn muốn kể câu chuyện về ai? Bạn muốn kể câu chuyện này từ góc nhìn nào? Chúng ta có nhìn qua vai nhật vật không? Và chúng ta có biểu hiện suy nghĩ của nhân vật không? Chúng ta có nhìn một người khác từ xa? Nó có phải là một quan điểm toàn diện không? Và chúng ta có đứng lùi lại để nhìn căn phòng không?”

Đối với Kuras, điều ít thú vị nhất là các set up truyền thống: một master shot, và các shot cận thể hiện sự phản ứng của nhân vật. Cô nói: “Sẽ thú vị hơn khi bạn làm khác đi một chút. Khi xem Eternal Sunshine [of the Spotless Mind], bạn có thể thấy rằng nếu chúng tôi quay phim đó bằng cách truyền thống, nó sẽ là một phim siêu buồn ngủ.”

Các cảm giác năng động của bộ phim đã đưa tên tuổi của Gondry lên một tầm mới đến từ quyết định quay handheld. Theo Kuras, Gondry “đã đưa ra quyết định của mình, rằng ông muốn mọi thứ phải thật cơ bản. Vì vậy tôi nhận ra rằng hình thức của bộ phim phải là một phần của nội dung. Tôi biết rằng quay handheld và quay với các góc trông hơi “lén lút” sẽ giúp tạo ra cảm giác cho bộ phim đó.”

“Cho phép bản thân mình có cảm xúc khi quay.”

Gondry đã rất kiên trì trong việc quay handheld. Trong thực tế, đôi khi ông đẩy Kuras từ phía sau bởi ông cảm thấy rằng cô đang giữ máy quay quá ổn định. Cô nhớ lại: “Ông muốn mọi thứ phải thực sự thô ráp. Vì vậy tôi nói: “Okay, nó liên quan đến sự nghiệp điện ảnh của mình”. Và tôi tiếp tục thực hiện, và nó quan trọng bởi vì khi bạn xem bộ phim như một toàn thể, bạn sẽ nhận ra rằng bạn đã đi vào khía cạnh năng động của nó.”

Để tạo ra được cảm giác “cơ bản” của phim, Gondry muốn Kuras quay Eternal Sunshine bằng các long take để các diễn viên có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Cô phải tìm cách để dù quay long take thì vẫn lấy được các shot phản ứng truyền thống, phục vụ cho tầm nhìn của bộ phim.

Kỹ năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo là công cụ tốt nhất của bạn.
Ngoài việc nghe theo trực giác của mình, Kuras nói rằng lời khuyên tốt nhất mà cô có thể dành cho bạn là: “Nếu bạn không biết điều gì đó thì hãy hỏi. Đó là điều quan trọng. Và hữu ích”

Giải quyết vấn đề là tên của một trò chơi trong làm phim. Kuras từng phải dùng đến nó trong mọi công việc, đặc biệt là trong bộ phim tài liệu của chính cô The Betrayal (Nerakhoon). Cô bắt đầu phim này khi học cấp 3, nơi cô biết rằng mình muốn trở thành một QP, và đạt được mục tiêu nó sau 25 năm. Có rất nhiều rào cản phải vượt qua, một khi sự nghiệp của cô bắt đầu phát triển. Cô quay 35 bộ phim khác giữa khoảng thời gian bắt đầu và kết thúc quá trình sản xuất bộ phim. Nhưng chủ yếu là các trở ngại về mặt hậu cần, đòi hòi cô liên tục đưa ra những câu hỏi, trau dồi các kỹ năng và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo để có thể vượt qua được.

Bộ phim miêu tả câu chuyện của một gia đình về những trải nghiệm của họ trong cuộc chiến bí mật của chính phủ Hoa Kỳ tại Lào trong chiến tranh Việt Nam. Một trong những rào cản mà cô gặp phải là Lào là một quốc gia đóng, và cô không thể đến đó trong nhiều năm. Vì vậy cô bắt đầu quay phim với những người nhập cư Lào ở Brooklyn. Cô học tiếng Lào. Và khi cô không thể đưa các đoạn clip tư liệu vào phim, cô đã chiếu nó lên tường với một cái máy chiếu 16mm và quay phim lại đoạn chiếu đó để có thể đưa vào phim của mình.

Cô kể tất cả những ví dụ này như một minh chứng cho thấy rằng giải quyết vấn đề là một kỹ năng cần thiết trong mọi hoàn cảnh khác nhau. Cô nói: “Các thách thức sáng tạo nên được xem là một phàn trong kho vũ khí sáng tạo của bạn chứ không phải là một rào cản chống lại bạn.”

Đừng có cố trở thành một kẻ khốn nạn

Khi được hỏi về điều quan trọng nhất giữa mối quan hệ giữa đạo diễn và QP, Kuras đã nhấn mạnh vào sự tin tưởng. Cô nói: “Điều quan trọng nhất với tôi là mình có thể tin tưởng đạo diễn của mình. Và họ biết rằng tôi đang theo dõi họ và tôi đang cố gắng để hiểu được họ, nhằm kể câu chuyện của họ, và nâng cao câu chuyện đó.”

Kuras cũng tin tưởng vào tầm quan trọng của việc chú ý đến mọi người tham gia vào quá trình hợp tác. Cô nói: “Đoàn làm phim quan trọng đối với tôi. Và tất cả những ai biết tôi đều biết rằng tôi là một người ủng hộ các thành viên đoàn làm phim về thời gian và bảo vệ cho họ. Rất nhiều lần, các QP nghĩ rằng họ đứng đầu hệ thống phân cấp và rằng họ có quyền đối xử với mọi người như shit.”

Cô nhấn mạnh: “Bạn không cần phải trở thành một kẻ khốn nạn mới thành công được. Và tôi nghĩ tôi là một bằng chứng cho điều đó. Tôi đối xử với mọi người một cách công bằng và tôi tôn trọng mọi thành viên trong nhóm, dù công việc của họ là gì, họ cũng đều quan trọng trong quá trình làm việc.”

Không nhất thiết phải dùng ống prime
Kuras rất thích dùng ống zoom khi quay bộ phim đầu tiên của mình, Swon của Tom Kalin năm 1992. Swoon được quay trong 14 ngày với kinh phí 25000 USD, bằng một máy quay trắng đen 16mm. Chúng tôi thậm chí không có nổi một cái dolly thật. Chúng tôi phải dùng một cái cửa để làm dolly.”

Do những hạn chế về mặt ngân sách, họ đã quay toàn bộ bộ phim trên hai ống kính zoom. Nhưng Kuras nhận ra rằng cô thực sự thích việc đó. Cô nói: “Điều khiến tôi thích ống kính zoom là tôi có thể thay đổi tiêu cự ống kính một chút vào cuối shot. Điều này luôn luôn diễn ra khi đạo diễn hô cut và cái khoảnh khắc diễn ra ngay sau đó khi các diễn viên vẫn đang ở trong nhân vật của họ và họ bắt đầu thoát ra khỏi nó… Và nó gần như kiểu là mỗi shot mà bạn quay là một vòng tròn. Nó có bắt đầu, ở giữa và kết thúc. Nó có câu chuyện riêng của mình. Vì vậy với ống kinh zoom ở lúc kết thúc của câu chuyện đó, bạn có thể kết thúc nó. Tôi có thể nhấn mạnh nó một chút.”

Sau đó, cô được đưa vào để thay thế QP nổi tiếng Sven Nykvist (The Unbearable Lightness of Being) trong phim Angela của Rebecca Miller. Cô gặp anh để xin vài lời khuyên: “ Tôi thích tác phẩm của ông, tôi thích sự thanh đạm của nó, tôi thích cách ông nhìn vào ánh sáng, nhưng điều tôi yêu nhất trong tác phẩm của ông chính là sự cộng hưởng. Tâm hồn và cảm xúc của riêng bạn đi vào tác phẩm của ông.”

Kuras đã nói với Nykvist: “Mọi người đều nói rằng, bạn chỉ có thể trở thành một cinematographer thực thụ khi bạn làm một bộ phim thực thụ. Bạn cần phải dùng ống prime vì nó cho ra chất lượng hình ảnh tốt hơn.” Nykvist cười và nó với cô rằng ông luôn dùng ống zoom.

Lời khuyên của ông đã theo Kuras trong suốt sự nghiệp của mình: “Bạn có thể dùng bất cứ thứ gì mà bạn cảm thấy nó cần cho phim. Hãy đi theo trực giác của mình. Đó là góc nhìn của bạn.”

Nguồn: No Film School

Read more

Kiến thức, Nổi bật, Quay Phim Comments Off on Những quan niệm sai lầm thường thấy trong việc làm phim |

Những quan niệm sai lầm thường thấy trong việc làm phim

Các thiết bị làm phim hiện đại hết sức tuyệt vời bởi kích thước, trọng lượng, điện năng tiêu thụ và giá cả. Mặc dù vậy, vẫn có một số điều khiến chúng ta phải suy nghĩ về việc làm phim trong năm 2017, nó không còn giống như chúng ta hình dung trước đây. Trong bài viết này, Phil Rhodes sẽ chỉ cho chúng ta thấy 5 quan niệm sai lầm nhất về việc làm phim.

Đây là danh sách những điều mà chúng ta muốn làm rõ với mọi người để họ đừng hiểu sai vấn đề nữa, chắc chắn là nó không đây đủ, và những bình luận của bạn sẽ được hoan nghênh.

Ngày nay, bạn không cần dùng nhiều đèn để làm phim
Một số máy quay kỹ thuật số hiện đại có ISO lên đến 6 con số. Tuy nhiên, hầu hết các máy quay điện ảnh kỹ thuật số không thực sự hoạt động tốt ở mức ISO trên 800. Đây không phải là điều gì bí mật và không cần phải tranh cãi để làm gì. Việc các máy quay không cho phép quay log dưới vài ngàn đã từng là chủ đề trong nhiều chiến dịch cho một lựa chọn có độ nhạy thấp hơn và giản dị hơn – và các nhà sản xuất đã  cung cấp các bản cập nhật (một số hạn chế này được khơi dậy bởi nhu cầu phát triển các LUT cụ thể cho mỗi chế độ, tốn rất nhiều thời gian). Chỉ cần chúng ta hiểu nhau, 800 thì ít hơn một stop nhanh hơn 500. Và đã có bộ phim quay ở tốc độ 500 trong một thời gian dài, vậy nên 800 hay 1600 đều ổn và không phải là cái gì đó ghê gớm lắm. Ngay cả khi nhiều người sẽ cân nhắc việc ưu tiên khả năng xử lý highlight tốt, nhưng để có hình ảnh chất lượng cao, bạn vẫn phải cung cấp đủ lượng ánh sáng cần thiết.

Khi đề cập đến vấn đề này, một trong những điều khiến cho vấn đề càng trở nên trầm trọng hơn là việc người ta hiểu lầm rằng đèn LED tạo ra nhiều ánh sáng hơn trên mỗi watt so với bất cứ công nghệ nào trước đây. Nó được cho là có hiệu suất ngang ngửa với đèn HMI và tiêu tốn ít điện năng hơn. Nghe thật tuyệt. Nhưng hầu hết các đèn LED hiện nay chỉ có công suất khoảng trên dưới một trăm watt và chúng chỉ phù hợp dùng trong quay phỏng vấn chứ rất khó dùng trong các dự án lớn.

Bạn cần một máy quay với cảm biến lớn thì mới quay được hình ảnh mang chất điện ảnh
Hãy bỏ qua một thực tế rằng, một số tác phẩm điện ảnh quan trọng đã sử dụng độ sâu trường ảnh lớn. Orson Welles, nổi tiếng với phim Citizen Kane, thường dùng hình ảnh với độ sâu trường ảnh nông để xử lý các vấn đề về background nếu nó được xây dựng không tốt. Đây là một kỹ thuật tương đối hợp lý.

Vấn đề phổ biến là việc người ta nghĩ rằng chỉ có máy quay với cảm biến super-35 mới có thể tạo ra điều đó. Điều này khiến cho các máy quay với cảm biến nhỏ hơn thường không được đánh giá đúng mức. Đặc biệt là nó cho phép chúng ta sử dụng các ống kính nhỏ hơn, nhẹ hơn và nhanh hơn, cho cùng trường nhìn tương đương với ống kính thường dùng trên máy quay cảm biến super-35. Ống kính dùng cho máy super-16 có giá khá rẻ chỉ vì người ta bị ám ảnh quá nhiều bởi những máy quay với chip lớn đã vội vàng kết luận rằng chúng không tốt bằng. Trời ơi!

Các máy quay như Blackmagic Pocket Cinema Camera có giá khá rẻ. Ống kính Canon HJ21x7.5B KLL-SC 21x 2/3″ Cine Zoom với khẩu f/2.1-2.9, cho phép bạn xóa phông mềm mại. Chắc chắn là người ta sẽ tranh cãi nhiều về chất lượng quang học của các ống kính zoom, nhưng bộ Zeiss Digiprimes, là bộ ống kính hết sức dễ thương, được bán trên ebay với giá dưới 300 triệu cùng với bộ kiểm tra lấy nét SharpMax. Chúng đều có khẩu độ dưới f/2. Bạn còn gì để lưỡng lự chứ?

Flag chỉ dành cho kẻ bất tài
Với sự tiến bộ của công nghệ, ngày nay người ta có thể tạo ra nhiều ánh sáng với ít điện năng hơn so với trước đây. Vấn đề xảy ra khi ánh sáng quá nhiều và chúng ta không có cách nào hạn chế chúng để đạt được ý đồ của mình. Thật ra thì đây không phải là vấn đề phổ biến, thường chỉ xuất hiện khi sử dụng các hệ thống chất lượng thấp thường dùng trong phim sinh viên và phim ngắn hoặc người làm video để up lên internet, những người thường tìm cách làm nổi bật chủ thể lên trên hậu cảnh. Tuy nhiên, đó cũng là vấn đề khi một sinh viên 17 tuổi để cho ánh sáng vốn chỉ nên chiếu vào tiền cảnh lại loang lổ khắp nơi.

Có một cách hết sức đơn giản là sử dụng flag. Nó chỉ đơn giản là một tấm vải đen căng trên một khung kim loại. Một sự thật gây khó chịu và khiến người ta đánh giá thấp tầm quan trọng của nó là bởi giá của cái khung kim loại thậm chí còn đắt hơn thứ đặt trên nó. Nhưng ngay cả những người chuyên nghiệp nhất cũng thích sử dụng thiết bị tầm thường này để điều hướng ánh sáng theo đúng ý đồ của mình. Không có lý do gì để không sử dụng một thứ vừa rẻ vừa hiệu quả như vậy để tránh cho nhân vật khỏi phải nheo mắt bởi ánh sáng phát ra từ đống đèn sáng quá mức của bạn trên phim trường.

Gấp đôi look có nghĩa là gấp đôi thiết bị
Một trong những cách tốt nhất để giao tiếp với bộ phận quay là sử dụng các ví dụ. Một vài người cho rằng việc dùng các các ví dụ thường gặp phải những hạn chế nhất định đối với khả năng sử dụng ngôn từ để biểu đạt ý nghĩa một cách chính xác, nhưng có vẻ như những người trong tổ quay phim làm việc trong khoa học viễn tưởng vẫn tiếp tục đòi hỏi việc dùng ví dụ minh họa rằng tương lai gần sẽ giống như trong Blade Runner hay 2001: A Space Odyssey.

Sai lầm ở đây là giả sử rằng bộ phận quay thực sự có khả năng làm cho nó giống như trong Blade Runner, đặc biệt nếu “nó” là một căn hộ có tường trắng của ai đó. Hiện nay, phim noir đã dùng những công nghệ nhất định để khiến cho ngay cả những người không quen cũng có thể dễ dàng thưởng thức chúng. Nó được quay bằng ống kính C-series anamorphic của Panavision và dùng đèn sợi đốt 5247 100-speed của Kodak (những bộ phim khác như Alien và Top Gun cũng được quay bằng những thiết bị này và cho hình ảnh rất đẹp), cho hình ảnh có độ tương phản cao và mức grain tối ưu mà không có công nghệ nào của thời đó có thể làm được, thậm chí có dùng các ống C-series của Panavision đi chăng nữa, kết quả vẫn sẽ không được như vậy.

 

Cuộc cách mạng đang đến rất gần
Cuối cùng, chúng ta nói về niềm tin nguy hại nhất đối với việc làm phim: đó là sự thay đổi về mặt công nghệ có thể tạo ra, hoặc đã tạo ra một sự khác biệt lớn trong cách làm phim. Điều này có vẻ không được sáng suốt cho lắm, khi cho rằng quá trình chuyển đổi kỹ thuật số có nghĩa là bạn có thể mua được những thứ chất lượng cao với vài xu lẻ. Điều đó không sai. Nhưng quá trình chuyển đổi đã mất ít nhất 20 năm để xảy ra, kể từ những năm cuối cùng của thập niên 1980, khi các video chất lượng cao bắt đầu trở nên phổ biến, cho đến năm 2010 khi nó bắt đầu có giá cả hợp lý hơn. Sự thay đổi đã bị chống lại trong suốt một thời gian dài, và có thể nói rằng cái kỷ nguyên mà chúng ta mong đợi sẽ còn lâu mới xảy ra. Hơn thế nữa, sự thật đáng buồn là low end vẫn là low end vì nó vẫn không đủ khả năng để đáp ứng được các yêu cầu cao trong làm phim. Chi phí chủ yếu của việc làm phim chưa bao giờ thuộc về bộ phận máy quay, và nó sẽ luôn như vậy.

Nguồn: RedShark News

Read more